HomeAudit & Accounting

Case study 1 : Giảm trừ doanh thu – Thông tư 200 và những kẽ hở

Like Tweet Pin it Share Share Email

Thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 và được áp dụng bắt đầu từ năm tài chính 2015. Đây là thông tư được đánh giá là đã giúp chế độ kế toán Việt Nam tiệm cận gần hơn, 40-50% so với Thông lệ và Chuẩn mực quốc tế, nguyên tắc xuyên suốt trong Thông tư 200 là tôn trọng bản chất hơn hình thức. Tuy nhiên, mặc dù Thông tư 200 chưa được áp dụng tròn 1 năm tài chính, có nghĩa là chưa đến thời điểm được dự báo là thông tư 200 sẽ bị đưa ra tranh cãi gay gắt nhất – thời điểm kết thúc và lập BCTC cho năm tài chính 2015, nhưng một số hạn chế trong thông tư 200 đã được đưa ra mổ xẻ. Dưới đây, mình xin chia sẻ về một nhát cắt nhỏ trong thông tư 200 mà được coi là hình thức vẫn còn lấn át bản chất.

Câu hỏi được đặt ra:

Giảm trừ doanh thu của kỳ nào có liên quan gì đến việc khoản giảm trừ doanh thu phát sinh trước hay sau thời điểm phát hành bctc không ?

Theo điều 81 thông tư 200 nói về Tài khoản 521 – Các khoản giảm trừ doanh thu có một đoạn quy định như sau:

– Trường hợp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau mới phát sinh chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán hoặc hàng bán bị trả lại thì doanh nghiệp được ghi giảm doanh thu theo nguyên tắc:

Trường hợp 1: Nếu sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại, bị trả lại nhưng phát sinh trước thời điểm phát hành Báo cáo tài chính, kế toán phải coi đây là một sự kiện cần điều chỉnh phát sinh sau ngày lập Bảng cân đối kế toán và ghi giảm doanh thu, trên Báo cáo tài chính của kỳ lập báo cáo (kỳ trước).

Trường hợp 2: Trường hợp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại, bị trả lại sau thời điểm phát hành Báo cáo tài chính thì doanh nghiệp ghi giảm doanh thu của kỳ phát sinh (kỳ sau).

Xét một tình huống:

Tông doanh thu của Công ty A năm N là 1.000 tỷ, trong đó ngày 13/12/N Công ty A bán hàng hóa cho Công ty B, và doanh thu được ghi nhận là 200 tỷ. Đến đầu năm N+1, Công ty A đồng ý giảm giá lô hàng trên cho Công ty B 20 tỷ vì lý do được ghi trong Biên bản thỏa thuận là bên B phát hiện 1 lượng hàng hóa kém chất lượng ước tính khoảng 20 tỷ và Công ty A chấp nhận khoản giảm giá hàng bán như yêu cầu của bên B. Ngày BCTC của Công ty A được phát hành là 20/01/N+1. Tổng doanh thu của năm N+1 là 900 tỷ.

Ta sẽ đi phân tích sự khác biệt khi áp dụng tình huống nêu trên vào từng trường hợp theo quy định trong thông tư 200:

Trường hợp 1: Khoản giảm giá cho lô hàng 20 tỷ phát sinh ngày 19/01/N+1 trước 1 ngày trước ngày ký BCTC của Công ty A (ngày 20/01/N+1), thì tổng doanh thu của năm N được ghi nhận trong BCTC là 1.000 – 20 = 980 tỷ, và Tổng doanh thu của năm N+1 vẫn là 900 tỷ. Điều này phản ánh đúng doanh thu phát sinh năm N và năm N+1. Bản chất lúc này vẫn được tôn trọng hơn hình thức.

Trường hợp 2: Xét đến trường hợp khoản giảm giá 20 tỷ trên phát sinh ngày 21/01/N+1 chỉ sau 1 ngày sau ngày ký BCTC của Công ty A và chậm hơn 2 ngày so với trường hợp 1, thì Tổng doanh thu của năm N và năm N+1 đã hoàn toàn khác, mặc dù bản chất thì 20 tỷ vẫn là khoản giảm trừ của 200 tỷ doanh thu được ghi nhận ngày 13/12/N . Lúc này, tổng doanh thu của năm N là 1.000 tỷ, và tổng doanh thu năm N+1 là 880 tỷ. Như vậy, doanh thu của năm N và năm N+1 trên BCTC đã không phản ánh đúng thực tế. Bản chất đang bị lấn át bởi hình thức.

Từ việc phân tích ví dụ trên, KTV và người soát xét BCKT khi tiến hành một cuộc kiểm toán, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Xét trên phương diện của các doanh nghiệp, nội dung của thông tư 200 mà mình nếu ra ở trên chính là một trong vô vàn kẽ hở để doanh nghiệp lách luật điều chỉnh doanh thu và lợi nhuận các năm theo ý muốn của mình. Dân kế kiểm thường có câu cửa miệng: “BCTC là của nhà làm được”, vậy ngày tháng ghi trên BCTC có đúng là ngày BCTC được phát hành không, hay là do chủ kiến của Chủ doanh nghiệp và kế toán? Vấn đề này chắc chúng ta đều hiểu. Đến đây, có ai khẳng định được là sẽ xác định chính xác thời điểm khoản giảm trừ doanh thu đó thực sự phát sinh trước hay sau ngày phát hành BCTC?

Ở ví dụ trên, có 2 hướng có khả năng xảy ra mà doanh nghiệp tìm cách lách luật như sau:

Dạng 1: Khoản doanh thu 200 tỷ phát sinh năm N là có thực. Đến năm N+1, khoản giảm trừ doanh thu 20 tỷ cũng là có thực. Tuy nhiên, nếu Công ty A đó không muốn giảm doanh thu và lợi nhuận của năm N vì sẽ làm “xấu” BCTC, giảm khả năng thu hút các nhà đầu tư hay là vì một mục đích nào khác, thì Công ty A sẽ thay đổi ngày tháng trên BCTC thành ngày trước ngày phát sinh khoản giảm trừ trên, còn nếu Công ty A muốn giảm doanh thu, giảm lợi nhuận để giảm thuế TNDN phải nộp thì Công ty A sẽ thay đổi ngày trên BCTC thành ngày sau ngày khoản giảm trừ doanh thu phát sinh.

Dạng 2: Khoản doanh thu 200 tỷ phát sinh năm N thực chất chỉ có 180 tỷ là thật, còn 20 tỷ là ảo. Nguyên nhân là do Công ty A muốn khai khống doanh thu của năm N thêm 20 tỷ với mục đích làm đẹp BCTC của năm N, để lợi nhuận năm N không bị âm,….Trong khi, Công ty B lại muốn chi phí của năm N tăng lên, lúc này 2 công ty sẽ thỏa thuận với nhau khai khống giá trị của lô hàng mà A bán cho B từ 180 tỷ thành 200 tỷ, và đến năm N+1 sẽ ghi nhận giảm giá trị lô hàng đó dưới danh nghĩa “giảm giá hàng bán”.

Xét trên phương diện của Kiểm toán viên, đây cũng chính là một điểm dẫn đến việc BCTC được kiểm toán chưa được phản ánh trung thực, hợp lý khi mà giữa KTV và đơn vị khách hàng có sự thỏa thuận ngầm rằng sẽ điều chỉnh ngày tháng trên Báo cáo theo hướng phù hợp với mục đích của doanh nghiệp.

Trên đây chỉ là một điểm rất nhỏ trong những điểm bản chất vẫn chưa được coi trọng hơn hình thức trong Thông tư 200 mà mình lĩnh hội được. Bài viết sau mình sẽ tiếp tục đi vào chủ đề về Cán cân giữa bản chất và hình thức trong thông tư 200 thông qua nội dung khác là việc ghi nhận giá trị của TSCĐ. Mời các bạn đón đọc!

UPDATE THỦ TỤC KIỂM TOÁN

1. Nếu báo cáo này được kiểm toán, sẽ đưa ra một vài thủ tục để phát hiện và xử lý sai sót đối với vấn đề tên như sau:
– Phỏng vấn đơn vị về chính sách bán hàng: với mặt hàng A, khách hàng B mua với số lượng bao nhiêu hoặc giá trị bao nhiêu sẽ được chiết khấu thương mại.
– Từ bước phỏng vấn, ta sẽ áp dụng thủ tục phân tích để xác định xem khách hàng B đó đã đủ điều kiện được chiết khấu thương mại chưa, nếu đủ điều kiện rồi, tại sao chưa hạch toán giảm doanh thu. Lưu ý tới nguyên tắc “Thận Trọng” ở CM kế toán số 01. Định hướng xử lý cơ sở dẫn liệu “đầy đủ”
– Kiểm tra sau niên độ, việc phát hành báo cáo kiểm toán, thường rơi vào cuối tháng 02 đến đầu tháng 03 cho kỳ 31.12.N. Do đó, bạn đã có thể kiểm tra nhiều kiểm vụ phát sinh sau niên độ liên quan đến việc ghi giảm doanh thu, để xem xét có cần điều chỉnh vào doanh thu năm N hay không.
– Đối với trường hợp gian lận, khai khống doanh thu từ 180 tỷ lên 200 tỷ thì bạn chú ý, việc kiểm tra ghi nhận doanh thu (tất nhiên nếu là gian lận thì khó kiểm tra hơn, nhưng cả 2 công ty thông đồng thì hơi khó gặp) của bạn không chỉ dừng lại ở hợp đồng, hóa đơn mà ở chứng từ xuất kho, và tính phù hợp giữa doanh thu và giá vốn ghi nhận. Chi tiết hơn, việc ghi nhận doanh thu có thể do ghi tăng số lượng hàng bán hoặc do tăng giá bán đơn vị:
– Tăng số lượng hàng bán: kiểm tra phiếu xuất kho.
– Tăng giá: kiểm toán viên sẽ phỏng vấn lại chính sách bán hàng, tại sao có sự biến động giá như vậy, đánh giá câu trả lời=> có cơ sở để hạn chế gian lận ghi tăng doanh thu ảo, sau đó điều chỉnh ở kỳ tài chính sau.
2. Xét trên phương diện kiểm toán : “giữa KTV và đơn vị khách hàng có sự thỏa thuận ngầm” bạn không nên ví dụ như thế này. Vì đó là cố tình gian lận chứ không có kẻ hở nào ở đây cả.

Case study 1 : Giảm trừ doanh thu – Thông tư 200 và những kẽ hở
5 (99.31%) 29 votes

Comments (7)

  • Oh hay quá. Cám ơn anh Steven

    Reply
  • Mình xin có chút ý kiến thế này. Bài viết của bạn khá sơ sài, chỉ nêu thực tế, không có đánh giá và hướng giải quyết/ so sánh với các chuẩn mực IFRS, kèm theo ví dụ của bạn không nêu rõ là báo cáo tài chính đã kiểm toán hay chưa kiểm toán. Nếu là báo cáo chưa kiểm toán thì các ví dụ của bạn đưa ra có thể chấp nhận được, nhưng nếu là báo cáo đã kiểm toán đối với doanh nghiệp có kỳ kế toán kết thúc 31 tháng 12 mà ngày báo cáo là 20 tháng 01 thì hơi khó tin. Trong suốt quá trình công tác, tôi chưa gặp một nhóm kiểm toán có thể thực hiện đầy đủ quy trình kiểm toán cuối kỳ trong vòng 15-20 ngày ngay sau niên độ được, nhưng nếu có, hẳn họ phải rất giỏi hoặc khách hàng rất đơn giản.

    Theo tôi nghĩ, nếu bạn đã cất công tìm hiểu về thông tư 200 như trong trường hợp này, bạn nên phân tích thêm về những công cụ KTV có thể sử dụng để hạn chế những rủi ro kể trên, như vậy sẽ tốt hơn cho con đường sự nghiệp của bạn.

    Thân

    Reply
    • Cảm ơn bạn vì những đóng góp hết sức quý báu. Chính những góp ý này sẽ giúp các cây viết của blog có thêm động lực để viết lách.
      Bài viết trên cũng chỉ là gợi mở 1 phần nhỏ chứ không hẳn là nghiên cứu hay chút gì to tát để mọi người cũng góp ý chứ không phải là áp đặt đâu là đúng hay sai. Rất mong các góp ý như vậy để blog được phát triển hơn.

      Thân

      Reply
  • Tình cờ đọc bài viết thì tớ xin được đóng góp một chút ý kiến như sau:
    1. Nếu báo cáo này được kiểm toán, tớ sẽ đưa ra một vài thủ tục để phát hiện và xử lý sai sót đối với vấn đề tên như sau:
    – Phỏng vấn đơn vị về chính sách bán hàng: với mặt hàng A, khách hàng B mua với số lượng bao nhiêu hoặc giá trị bao nhiêu sẽ được chiết khấu thương mại.
    – Từ bước phỏng vấn, ta sẽ áp dụng thủ tục phân tích để xác định xem khách hàng B đó đã đủ điều kiện được chiết khấu thương mại chưa, nếu đủ điều kiện rồi, tại sao chưa hạch toán giảm doanh thu. Lưu ý tới nguyên tắc “Thận Trọng” ở CM kế toán số 01. Định hướng xử lý cơ sở dẫn liệu “đầy đủ”
    – Kiểm tra sau niên độ, việc phát hành báo cáo kiểm toán, thường rơi vào cuối tháng 02 đến đầu tháng 03 cho kỳ 31.12.N. Do đó, bạn đã có thể kiểm tra nhiều kiểm vụ phát sinh sau niên độ liên quan đến việc ghi giảm doanh thu, để xem xét có cần điều chỉnh vào doanh thu năm N hay không.
    – Đối với trường hợp gian lận, khai khống doanh thu từ 180 tỷ lên 200 tỷ thì bạn chú ý, việc kiểm tra ghi nhận doanh thu (tất nhiên nếu là gian lận thì khó kiểm tra hơn, nhưng cả 2 công ty thông đồng thì hơi khó gặp) của bạn không chỉ dừng lại ở hợp đồng, hóa đơn mà ở chứng từ xuất kho, và tính phù hợp giữa doanh thu và giá vốn ghi nhận. Chi tiết hơn, việc ghi nhận doanh thu có thể do ghi tăng số lượng hàng bán hoặc do tăng giá bán đơn vị:
    – Tăng số lượng hàng bán: kiểm tra phiếu xuất kho.
    – Tăng giá: kiểm toán viên sẽ phỏng vấn lại chính sách bán hàng, tại sao có sự biến động giá như vậy, đánh giá câu trả lời=> có cơ sở để hạn chế gian lận ghi tăng doanh thu ảo, sau đó điều chỉnh ở kỳ tài chính sau.
    2. Xét trên phương diện kiểm toán : “giữa KTV và đơn vị khách hàng có sự thỏa thuận ngầm” bạn không nên ví dụ như thế này. Vì đó là cố tình gian lận chứ không có kẻ hở nào ở đây cả.

    Reply
  • ad có thể đăng thêm nhiều case study nhưu thế này được không ạ. cho em hỏi các case trong phỏng vẫn big 4 có dạng nhưu thế nào nữa ạ. Em cám ơn

    Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *