HomeAudit & Accounting

Casestudy 2: Bê bối doanh thu ngành dược phẩm

Like Tweet Pin it Share Share Email

Đánh giá rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan trọng, giúp KTV xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm toán một cách hợp lý và hiệu quả. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc đánh giá rủi ro vẫn chưa hoàn thiện, do đây là một công việc khó và đòi hỏi trình độ phán xét của KTV cần đạt ở mức độ khá cao. Việc tự trang bị cho mình những hiểu biết cơ bản về rủi ro kiểm toán đặc thù của từng ngành sẽ đóng góp một phần quan trọng giúp KTV đi đúng hướng trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán của từng đơn vị mà KTV được phân công kiểm toán.

Trong bài viết này, mình xin được chia sẻ về rủi ro kiểm toán đặc thù của ngành Dược – chính là việc mua bán lòng vòng giữa các Công ty Dược với nhau.

1.Dược Viễn Đông ( DVD)

Đầu tiên, cần nhắc đến sự kiện của Dược Viễn Đông (DVD) đã diễn ra cách đây khá lâu làm dậy song thị trường chứng khoán – tài chính khi nhiều nhà đầu tư trắng tay khi cổ phiếu Dược Viễn Đông hủy niêm yết và trở thành giấy lộn.

Sự việc khá nổi tiếng này được đưa ra vào năm 2011, hàng loạt những bê bối của Dược Viễn Đông (DVD) trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2011 bị phanh phui, dẫn đến việc cổ phiếu của Công ty này bị rớt xuống mức giá thấp kỷ lục kể từ khi chào sàn là 4.000đ/cp, mức vốn hóa của DVD cũng giảm từ 108 tỷ đồng xuống 50 tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với vốn điều lệ 119 tỷ đồng, điều này buộc DVD phải hủy niêm yết kể từ ngày 5/9/2011, kết cục cuối cùng là Dược Viễn Đông phải chính thức công bố chấm dứt hoạt động khoảng 1 tháng sau đó.

Một trong những bê bối của DVD bị phát hiện là việc mua bán lòng vòng, được thể hiện ở hai biểu hiện nổi bật sau:

Về giá cổ phiếu, Nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị  kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần dược phẩm Viễn Đông (DVD) cùng một số người khác đã lập nhiều tài khoản, thông đồng thực hiện việc mua, bán cổ phiếu của Công ty Cổ phần dược phẩm Hà Tây (DHT) tạo ra cung cầu giả tạo, thao túng giá cổ phiếu DHT. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc giá cổ phiếu của DHT trong năm 2011 đã có lúc tăng vượt 40.000 đồng.

Về doanh thu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty Dược Viễn Đông cùng một số đối tượng đã lập ra nhiều công ty do người trong gia đình và bạn bè đứng tên làm lãnh đạo, nhưng thực chất chỉ để kinh doanh lòng vòng, tạo doanh thu ảo cho DVD; cung cấp một số thông tin không đúng thực tế (làm giá), nhằm chào bán cổ phiếu của DVD ra công chúng và hỗ trợ đăng ký niêm yết cổ phiếu DVD. Do đó, BCTC của DVD năm 2008 và năm 2009 đã không phản ánh đúng tình trạng tài chính của DN.

Và mặc dù BCTC năm 2008 và năm 2009 của Dược Viễn Đông đã được kiểm toán bởi 2 Công ty kiểm toán có uy tín (A&C và Ernst & Young), nhưng sự việc trên không được phía kiểm toán phát hiện, mà đến tận năm 2011 mới được phát hiện cùng hàng loạt sai phạm khác của DVD.

2. Dược Cửu Long ( DCL)

Tiếp theo cần nhắc đến sự kiện của Công ty CP Dược phẩm Cửu Long (DCL) mới được Báo chí, nhà đầu tư và những người quan tâm khác lên án vào khoảng tháng 6/2014- 7/2014.

Theo thông tin đã được các trang mạng cung cấp, trong năm 2013, tại Dược Cửu Long tồn tại khá nhiều giao dịch mang tính lòng vòng, bất thường. Ngoài vòng giao dịch khép kín diễn ra trong 2 ngày là ngày 7/12/2013 và ngày 9/12/2013 giữa Dược Cửu Long – VPC Sài Gòn (công ty 100% vốn của Dược Cửu Long) và An Tâm (một khách hàng có công nợ lớn tại Dược Cửu Long), một số giao dịch lòng vòng khép kín khác cũng được thực hiện như trong hình sau:

Những giao dịch trên chỉ được hạch toán trên sổ sách, còn thực chất thì không hề xảy ra bất kỳ giao dịch mua bán nào, hàng tồn kho không hề được luân chuyển, doanh thu, giá vốn và công nợ của những giao dịch này thực tế là không phát sinh.

Vậy hình thức mua bán này đã tạo ra những bất thường gì trong hoạt động và những con số tài chính của DCL?

Nếu nhìn vào BCTC của Dược Cửu Long ta sẽ thấy khoản phải thu khách hàng luôn giữ ở mức cao. DCL có quá nhiều nợ phải thu trên cơ cấu tài sản. Phải thu khách hàng ngày 31/12/2013 là hơn 202 tỷ trong khi tổng tài sản chỉ khoảng 611 tỷ, cuối quý I/2014 là gần 234 tỷ đồng trên tổng tài sản gần 621 tỷ đồng. Như thế là phải thu khách hàng đã chiếm khoảng 1/3 tổng tài sản.

Việc thu hồi công nợ từ các khách hàng khó đòi cũng đáng lưu ý, đặc biệt là nhóm 5 khách hàng lớn nhất (Công ty TNHH Dược phẩm Thiên Sơn, Công ty TNHH Dược phẩm Đại Nam, Công ty TNHH Dược phẩm Hải Tâm, CTCP Dược phẩm Việt Nam và Công ty TNHH Dược phẩm Anh Dũng), ước khoảng 50 tỷ đồng, đã quá hạn hơn 18 tháng. Nợ quá hạn là vậy, nhưng những hợp đồng bán hàng với những Công ty này vẫn tiếp tục được ký.

Nếu tình hình tài chính của DCL tốt, thì những việc nêu trên chưa chắc đã có điểm bất thường. Tuy nhiên, mặc dù Công ty có thể cho khách hàng nợ nhiều như vậy, nhưng khi nhìn đến khoản mục Vay và nợ ngắn hạn trên BCTC đã được kiểm toán thì người đọc cũng ấn tượng không kém với con số vay ngắn hạn là 251 tỷ tại thời điểm 31/12/2013 và gần 254 tỷ đồng tại thời điểm cuối quý I/2014. Hai con số này gần tương đương với số tiền mà DCL cho khách hàng nợ.

Từ những phân tích trên, câu hỏi đặt ra là mục đích của Dược Cửu Long nói riêng và những Công ty Dược khác ở đây là gì?

Ta có thể khái quát mục đích chung nhất của các Công ty Dược thông qua việc mua bán lòng vòng  như sau:

Thứ nhất, để tạo doanh thu ảo.

Ta cùng quan sát doanh thu và lợi nhuận sau thuế của DCL một vài năm gần đây:

Năm Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Lợi nhuận sau thuế TNDN Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu (ROS)
Năm 2009 577.773.208.885 56.438.280.553 9,77%
Năm 2010 579.748.719.537 11.700.099.849 2,02%
Năm 2011 686.633.872.874 (30.821.831.661) -4,49%
Năm 2012 637.370.966.110 19.156.700.511 3,01%
Năm 2013 681.824.081.557 30.292.412.188 4,44%

Đúng là một cú lội ngược dòng ngoạn mục, từ lãi lớn đến thua lỗ, và trước khi sai phạm được phát hiện thì năm 2013 Công ty cũng lại lãi lớn mặc dù doanh thu qua các năm không có nhiều biến động.

Thứ hai, “làm giá” để chào bán cổ phiếu ra công chúng.

Theo quy định, để được phát hành và chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, thì Doanh nghiệp cần thỏa mãn điều kiện hoạt động kinh doanh phải có lãi hai năm liên tục. Đồng thời, khi BCTC được công bố ra công chúng của Doanh nghiệp “đẹp” thì có thể chào bán cổ phiếu với giá cao,  thu hút nhà đầu tư vì không phải nhà đầu tư nào cũng nhìn ra được những bất thường trong BCTC của Doanh nghiệp nhất là khi Doanh nghiệp cố tình gian lận.

Thứ ba, Các Công ty Dược đều có lợi khi đẩy được giá thuốc lên cao.

Thông thường, việc mua bán lòng vòng, hay chuyển giá chỉ xảy ra giữa hai công ty với nhau. Như  thế đối với Kiểm toán sẽ dễ dàng phát hiện sai phạm này. Nhưng đối với ngành Dược, việc mua bán lòng vòng diễn ra trên một hệ thống, mỗi giao dịch thường trải qua ít nhất từ 2 đến 3 “trạm trung chuyển” thì mới hết một vòng giao dịch. Điều này sẽ tạo khó khăn cho KTV trong quá trình phát hiện ra sai phạm này, nhất là khi KTV chưa nắm được đây là một đặc thù của ngành Dược.

Một vài gợi ý khi đi kiểm toán các Công ty Dược là gì để giảm thiểu rủi ro kiểm toán.

  • Điểm cần chú ý thực hiện đầu tiên là KTV cần áp dụng thủ tục phân tích chỉ số thông qua BCTC, một tỷ suất phải thu khách hàng trên tổng tài sản cao bất thường và một số dư khoản mục vay lớn, hoặc phải trả người bán trên tổng nợ phải trả, hay trên Vốn chủ sở hữu quá cao, chính là dấu hiệu của việc mua bán lòng vòng.
  • Vì những giao dịch chỉ là giả, thuốc lại là mặt hàng bị kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, nhưng lại khó bảo quản, dễ bị giảm chất lượng và bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển, đồng thời để tiết kiệm chi phí vận chuyển, nên những giao dịch mua bán lòng vòng thường chỉ được thực hiện trên sổ sách, chứ không hề có sự luân chuyển hàng hóa tồn kho. Do đó, một thủ tục kiểm toán cũng cần thực hiện là kiểm tra phiếu nhập kho và phiếu xuất kho, nhất là các giao dịch diễn ra trong cùng một ngày. Con số đầu ra – đầu vào (Số lượng nhập trên phiếu nhập kho và số lượng xuất trên phiếu xuất kho) hoàn toàn trùng nhau, chính là một biểu hiện của giao dịch mua bán lòng vòng.
  • Cũng vì những giao dịch này là không có thực, do đó các khoản công nợ của những cuộc mua bán này thường sẽ không được thanh toán bằng tiền, các Công ty thường lựa chọn hình thức thanh toán là bù trừ công nợ ba bên. KTV cần xem xét kỹ lưỡng những đối tượng được bù trừ công nợ với nhau. Ví dụ như, Công ty A bán thuốc cho Công ty B, B bán cho C, C lại bán lại cho A, như thế sẽ tạo mối quan hệ ảo là B đóng vai trò là khách hàng của A, C là nhà cung cấp của A và sẽ có Biên bản bù trừ công nợ giữa Khách hàng B và Nhà cung cấp C.
  • Xét đến đặc điểm về giá bán từng mặt hàng trong những giao dịch này, vì Công ty Dược A bán sản phẩm của mình cho một Công ty Dược khác, sau một vòng giao dịch trên danh nghĩa, Công ty A lại mua lại chính sản phẩm của mình nhưng với giá chắc chắn sẽ bị đội lên rất nhiều, vì mục đích chung của các Công ty Dược này là khi bán ra ngoài thị trường cho người tiêu dùng sẽ bán được với giá cao hơn rất nhiều so với giá mua thực tế ban đầu mà không bị phát hiện rằng tỷ suất lợi nhuận của các Công ty này thực sự khủng nếu không có các giao dịch lòng vòng như thế. Do đó, KTV cần thực hiện thủ tục kiểm toán phân tích giá như: so sánh giá mua vào bán ra của từng mặt hàng; giá mua từng mặt hàng của từng lần giao dịch, và của từng nhà cung cấp với nhau để tìm ra những biến động bất thường. Hay so sánh giá bán từng mặt hàng khi Công ty bán thuốc cho Công ty Dược khác với giá bán ra ngoài thị trường cho người tiêu dùng, có thể khi KTV phát hiện giá bán cho hai loại đối tượng này chênh nhau quá lớn, đơn vị sẽ giải thích là giá bán buôn thấp hơn giá bán lẻ là điều đương nhiên. Tuy là vậy, nhưng hiển nhiên với một mặt hàng thì không thể nào vừa bán với một giá quá thấp và một giá lại trên trời được.

Trên đây là quan điểm hạn chế của một kiểm toán viên và mình biết là nó không hề đơn giản như vậy. Hãy cùng chia sẻ quan điểm về vấn đề này ở comment nhé :)

Casestudy 2: Bê bối doanh thu ngành dược phẩm
5 (100%) 3 votes

Comments (0)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *