Kế toán điều tra là gì?

Kế toán điều tra là gì?
Like Tweet Pin it Share Share Email

I. Khái quát về Kế toán điều tra

Thuật ngữ kế toán điều tra (Forensic Accounting) – Một số tài liệu khác dịch là Kế toán pháp lý – xuất hiện ở các nước phát triển từ những năm 1980, được xem như có vai trò chính nối liền khoảng cách giữa nghề nghiệp kiểm toán và nhu cầu phòng chống gian lận. Kế toán điều tra là sự tổng hợp giữa kế toán, kiểm toán, luật để thực hiện hai chức năng chính, bao gồm: điều tra kế toán (Investigative Accounting) và hỗ trợ pháp lý (Litigation Support).

Về lịch sử phát triển, kế toán điều tra chắc chắn không phải là lĩnh vực mới. Chuyên môn này đã tồn tại rất lâu mặc dù trước đó nó không được gọi là kế toán điều tra. Tại Ai Cập cổ đại, các nhân viên có chịu trách nhiệm quản lý kho thóc, vàng và các tài sản khác của Pharaoh được gọi là “tai và mắt” của Pharaoh. Các công việc này có bản chất của kế toán điều tra. Theo Crumbley (2001), bằng chứng cho sự tồn tại của kế toán điều tra có thể quay lại năm 1817 trong phiên xét xử Meyer v. Sefton của Tòa án Canada liên quan đến xác định giá trị bất động sản của vụ phá sản.

Tại toà, người đã kiểm tra giá trị tài sản được yêu cầu làm nhân chứng xác nhận trước toà giá trị tài sản thanh lý của vụ phá sản, vì không thể tiến hành một cuộc điều tra tại Toà án. Đến năm 1824, tại Glasgow, Scotland, một kế toán trẻ tên James McClelland đã phát hành giấy báo quảng cáo về chuyên môn hỗ trợ trong các vụ án trọng tài, hay tòa án. Vào cuối những năm 1800 đầu những năm 1900, đã xuất hiện các bài báo bàn luận về nhân chứng giám định (Expert Witness), bằng chứng pháp lý (Evidence Arbitration) và tiền phí. Như vậy, kế toán điều tra bắt nguồn từ công việc giám định bằng chứng trước tòa (Expert Witnessing).

Mặc dù công việc kế toán điều tra (Forensic Accounting) đã tồn tại từ lâu nhưng không có tài liệu nào ghi nhận cho đến khi Maurice E. Peloubet, một chủ phần hùn (partner) tại một công ty kế toán kiểm toán công chứng ở New York lần đầu tiên xuất bản một bài báo sử dụng thuật ngữ “Forensic Accounting”. Theo Peloubet (1946), cả kế toán công chứng và kế toán viên đều thực hiện kế toán điều tra (Forensic Accounting), sử dụng kết quả cho mục đích pháp lý. Kế toán điều tra luôn bao gồm điều tra thu thập bằng chứng về gian lận, xác định thiệt hại do gian lận gây ra, cuối cùng là giải trình kết quả tại tòa án.

Định nghĩa về kế toán điều tra

Dịch vụ kế toán điều tra xuất hiện ở các nước phát triển trong những năm 1980 để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo Xianghua Hao (2010), kế toán điều tra thường do một bên thứ ba độc lập thực hiện, và thông qua các thủ tục và phương pháp nhất định để khảo sát, tính toán, phân tích và quản lý các chỉ tiêu tài chính, tổn thất kinh tế, hoặc các vấn đề pháp lý trong việc quản lý các xung đột lợi ích kinh tế, và lập các báo cáo kế toán điều tra, cung cấp các tài liệu tham khảo cho tòa án hoặc cơ quan trọng tài hoặc cơ quan quản lý, xác nhận trách nhiệm pháp lý, hoặc cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý. Kế toán điều tra xuất hiện do sự phát triển của môi trường kinh tế, sự phát triển của nghề nghiệp.

Theo Apostolou, Hassell, và Webber, (2000) kế toán điều tra là sự kết hợp chuyên môn kế toán, kiểm toán và các kỹ năng điều tra để hỗ trợ các vấn đề pháp lý. Đây là một lĩnh vực chuyên ngành kế toán nhằm cam kết xác định kết quả các vụ tranh chấp, kiện tụng thực tế hoặc dự kiến. Kế toán điều tra có thể, do đó, được xem như là một lĩnh vực của kế toán, kết hợp với mục đích pháp lý và cung cấp mức độ đảm bảo cao nhất.

II. Vai trò của kế toán điều tra

Kế toán điều tra có vai trò khác với kiểm toán báo cáo tài chính. Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là đảm bảo báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, vì vậy trách nhiệm của kiểm toán độc lập là thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán trọng phạm vi và nội dung vừa đủ để phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính (không quan tâm đến bản chất, nguồn gốc của sai sót). Kế toán điều tra rộng hơn mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính, kế toán điều tra không đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính dựa trên mức trọng yếu qua thủ tục chọn mẫu, kế toán điều tra dựa trên các bằng chứng tài liệu và cả bằng chứng thẩm vấn để tìm hiểu ai, cái gì, khi nào, ở đâu, cách thức cũng như nguyên do sai sót, gian lận xảy ra hay có thể xảy ra, từ đó tư vấn cách khắc phục và ngăn chặn các hành vi tương tự diễn ra. Bên cạnh đó, các kết luận của kế toán điều tra có thể là công cụ hỗ trợ pháp lý trong các vụ kiện dân sự hay hình sự chống lại thủ phạm.

Kế toán điều tra trong tiếng Anh là Forensic Accounting, “Forensic” trong từ điển Webster có nghĩa là “belonging to, used in, or suitable to courts of judicature or to public discussions and debate” nghĩa là được dùng cho Tòa án pháp luật. Theo nghĩa này, kế toán điều tra là một lĩnh vực của kế toán kết hợp với chức năng tư pháp. Năm 1986, Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA, kế toán điều tra bao gồm hai lĩnh vực: (1) Hỗ trợ pháp lý (Litigation Support) và (2) điều tra kế toán (Investigative Accounting).

  1. Hỗ trợ pháp lý (Litigation Support): là sự hỗ trợ chuyên môn kế toán trong các vấn đề liên quan đến pháp lý. Nó chủ yếu liên quan đến việc định lượng giá trị thiệt hại.
  2. Điều tra kế toán (Investigative Accounting): là việc tìm kiếm bằng chứng xác định thủ phạm như điều tra biển thủ tài sản của nhân viên, hoặc tìm kiếm bằng chứng làm cơ sở bồi thường thiệt hại như bồi thường bảo hiểm, bồi thường tai nạn lao động v.v…

Theo VACPA

Hãy theo dõi tôi nhé...sẽ có nhiều thú vị cho bạn đấy !!!

* indicates required
/ ( mm / dd )

Comments (6)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *