HomeAudit & Accounting

Tài sản đảm bảo và nợ xấu ngân hàng!!!

Like Tweet Pin it Share Share Email

Hình như dạo này các bác ngân hàng nhà ta hay được lên báo quá, có bác còn nói làm giám đốc ngân hàng là “ nghề nguy hiểm” nữa chứ!!! Tại sao ngành ngân hàng lại ra cơ sự này? Hôm nay rảnh rảnh mình xin thảo luận 1 vài điều về vấn đề “Tài sản đảm bảo và nợ xấu tại ngân hàng”.

Bạn có thấy tò mò khi cho vay rất nhiều nhưng không có đảm bảo như vậy nếu đồng loạt các khoản vay này không thể thực hiện được nó có trở thành “Nợ xấu” với nền kinh tế quốc dân…

Chắc chắn câu trả lời là “Bắc thang lên hỏi ông trời làm sao mới biết khi nào “nợ xấu” đây.

Trên khía cạnh nghiên cứu hay kiểm toán thì chúng ta đều có những vấn đề cần cân nhắc: Cho vay vốn đã nhiều rủi ro nhưng lại không có Tài sản đảm bảo, thì có phải là Nợ xấu sẽ cao, KTV phải trích lập dự phòng  như thế nào? Nếu có TSĐB thì kiểm duyệt nguồn thông tin về TSĐB này có cần phải thực hiện?

Xin nhắc lại câu chuyện cũ của năm mới: Ngày 15/7/2015 đưa ra Xử lại vụ án “7 Ngân hàng  tranh chấp 1 Kho Café của Công ty Trường Ngân”.

Câu chuyện này, vụ việc này được phát giác vào đầu tháng 6/2013, khi giữa 7 ngân hàng cho Công ty Trường Ngân vay vốn đã xảy ra tranh chấp đối với hợp đồng tín dụng liên quan đến lô cà phê được Công ty Trường Ngân tín chấp lưu tại kho của công ty ở khu phố Chiêu Liêu, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, Bình Dương.

Câu hỏi số đặt ra là:

Đối với hoạt động cho vay, nếu cho vay dưới hình thức “tín chấp” tại sao cần “Tài sản đảm bảo”?

Nếu đã dùng “Tài sản đảm bảo” thì “Tài sản nào mới được dùng để đảm bảo khoản vay”, nếu dùng để đảm bảo khoản vay thì “Tại sao không đăng ký Giao dịch đảm bảo”.

Trả lời câu hỏi về Giao dịch đảm bảo là gì? Tại sao lại cần Đăng ký giao dịch đảm bảo?

Theo Khoản 1,Điều 3 của Nghị định số 83/2010/NĐ-CP  ngày 23/7/2010 thì các đối tượng là Tài sản được dùng làm Tài sản thế chấp các khoản vay tại Ngân hàng cần đăng ký Giao dịch đảm bảo tại Cơ quan đăng ký Giao dịch đảm bảo.

Trong đó bao gồm các giao dịch:

  • Thế chấp quyền sử dụng đất;
  • Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng;
  • Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;
  • Thế chấp tàu biển;
  • Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.

Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.

Tuy nhiên các Ngân hàng trên không xem xét Giao dịch có yêu cầu đảm bảo bằng Tài sản mà cho vay “vô tội vạ – theo chỉ đạo của sếp trên!!!”

7 ngân hàng (Agribank, Vietinbank, OCB, Techcombank, Maritimebank, MB và VIB) tranh nhau 1 kho cà phê ở Bình Dương “số ảo” 3.000 tấn cà phê (số cà phê này sau đó được xác định chỉ có 700 tấn là cà phê thật, số còn lại là vỏ cà phê, rác cùng hàng trăm loại tạp chất trộn lẫn đóng bao, giá trị chưa nổi 100 tỷ đồng) để thế chấp vay vốn tổng cộng hơn 600 tỷ đồng.

Sau sự kiện này dẫn tới hàng loạt món “Nợ xấu” trong hệ thống Ngân hàng theo dây truyền “TSĐB ảo”.

Trở lại với câu chuyện: Kiểm toán viên kiểm toán nghiệp vụ huy động vốn thì sao nhỉ?

Khi kiểm toán kiểm toán hoạt động huy động vốn mà chủ yếu là cho vay, cấp tín dụng thì  việc đầu tiên cần phải hiểu đó là mọi phương thức cấp tín dụng đều xuất phát từ lòng tin, ngân hàng có tin thì mới cấp tín dụng cho khách hàng, còn không sẽ từ chối cho dù tài sản bảo đảm có giá trị lớn.

Kiểm toán viên cũng phải hiểu nguyên tắc cơ bản khi “Kiểm tra hồ sơ huy động vốn, cấp tín dung” nhằm tránh trường hợp kiểm toán nhưng bỏ qua “Khoản vay ảo – TSĐB ảo

Thứ nhất là Character (tư cách của người vay): Quan hệ vay trả với khách hàng này đã tồn tại từ trước hay là khách hàng mới Có người bảo lãnh cho khoản vay hay không?…

Thứ hai là Capacity (năng lực của người vay): Khách hàng này có trong thời gian theo dõi truy cứu trách nhiệm dân sự nào không? Cho vay thì có Người bảo lãnh không? Nếu có thì nghĩa vụ của bên bảo lãnh với khoản vay là gì?; Những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay vốn có được lưu trong hồ sơ vay vốn không?…

Thứ ba là Control (kiểm soát):

Ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã thu thập đầy đủ chứng từ theo các luật hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đang được xem xét bao gồm:

  • Có đủ hồ sơ giấy tờ phục vụ cho công việc kiểm soát; hồ sơ giấy tờ cho vay,
  • Giải ngân phải có đầy đủ và được ký bởi các bên;
  • Mức độ phù hợp của khoản vay đối với quy chế, quy định của ngân hàng chưa?…

Thứ tư là Collateral (tài sản đảm bảo tín dụng) : 

  • Cuối cùng liệu trong hồ sơ vay vốn có TSĐB không? Đó là những loại tài sản; giá trị tài sản; tình trạng tài sản; tình trạng bảo hiểm;
  • Ngân hàng (TCTD) sẽ được thanh lý hay quản lý đối với tài sản khi được thế chấp/cầm cố…

Chính vì thế, nợ xấu không phụ thuộc hoàn toàn vào việc có hay không tài sản bảo đảm và việc này cũng không đồng nghĩa với việc dự phòng sẽ cao hay không cao?

Kiểm toán viên sẽ căn cứ theo Hồ sơ tín dụng có đảm bảo đầy đủ quy định hay không để đưa ra “Khuyến nghị phù hợp với khách hàng” cũng như trích lập dự phòng rủi ro cần thiết, nhằm tránh trường hợp bỏ sót “Khoản vay ảo – TSĐB ảo”, gây ra tổn thất cho nền Kinh tế quốc dân từ những món “Nợ xấu” không đáng có?

 

Tài sản đảm bảo và nợ xấu ngân hàng!!!
5 (100%) 34 votes

Comments (0)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *